Một số điểm mới trong công tác Thi đua – Khen thưởng của ngành Giáo dục và Đào tạo

Lượt xem:

Đọc bài viết

1

Ngày 31/12/2015, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 35/2015/TT-BGDĐT về việc hướng dẫn công tác thi đua – khen thưởng ngành Giáo dục.

Thông tư số 35/2015/TT-BGDĐT hướng dẫn công tác thi đua – khen thưởng của ngành Giáo dục, bao gồm: đối tượng thi đua, khen thưởng; tổ chức phát động phong trào thi đua; danh hiệu thi đua và tiêu chuẩn danh hiệu thi đua; hình thức khen thưởng và tiêu chuẩn khen thưởng; thẩm quyền quyết định, tuyến trình, thủ tục đề nghị công nhận danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng và tổ chức trao tặng; Hội đồng Thi đua – Khen thưởng và Hội đồng sáng kiến; quỹ thi đua, khen thưởng.

Công tác thi đua, khen thưởng ngành Giáo dục thực hiện theo quy định của Luật Thi đua, khen thưởng năm 2013; Nghị định số 42/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ; Nghị định số 39/2012/NĐ-CP ngày 27/4/2012 của Chính phủ; Nghị định số 65/2014/NĐ-CP ngày 01/7/2014 của Chính phủ; Thông tư số 07/2014/TT-BNV ngày 29/8/2014 của Bộ Nội vụ và các quy định tại Thông tư số 35/2015/TT-BGDĐT này.

Theo đó, công tác thi đua – khen thưởng của ngành Giáo dục có một số điểm mới:

Thứ nhất, đối với các danh hiệu “Lao động tiên tiến”, “Chiến sĩ thi đua cơ sở”, “Tập thể lao động xuất sắc”, “Cờ thi đua của Bộ Giáo dục và Đào tạo”, “Cờ thi đua của Chính phủ”, Bằng khen Bộ trưởng, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Huân chương các hạng được quy định tại Khoản 3, Điều 3, Thông tư số 35/2015/TT-BGDĐT: phải đạt từ 70% số phiếu đồng ý trở lên tính trên tổng số người tham gia họp hoặc được xin ý kiến.

Thứ hai, đối với các danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cấp Bộ”, “Chiến sĩ thi đua toàn quốc”, Danh hiệu vinh dự Nhà nước, Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước được quy định tại Khoản 4, Điều 3, Thông tư số 35/2015/TT-BGDĐT: phải được các thành viên của Hội đồng bỏ phiếu kín và đạt từ 90% số phiếu đồng ý trở lên tính trên tổng số thành viên của Hội đồng cấp đó (nếu thành viên Hội đồng vắng mặt thì lấy ý kiến bằng phiếu bầu).

Thứ ba, đối với danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở” được quy định tại Điều 10, Thông tư số 35/2015/TT-BGDĐT:

  1. a) Được xét tặng cho cá nhân đạt các tiêu chuẩn quy định tại Điều 4 Nghị định số 65/2014/NĐ-CP và cá nhân đạt một trong các thành tích quy định tại Khoản 2, Điều 11, Thông tư số 35/2015/TT-BGDĐT này hoặc đạt một trong các thành tích sau được tính là sáng kiến áp dụng xét, công nhận danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở”:

– Giáo viên Mầm non, Tiểu học, Trung học cơ sở đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp huyện trở lên; giáo viên trung học phổ thông, trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp trường trở lên.

– Giáo viên trực tiếp giảng dạy, bồi dưỡng được 01 học sinh đạt giải nhất, nhì, ba trong các kỳ thi cấp tỉnh. Riêng giáo viên công tác tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, các huyện nghèo được áp dụng hưởng chính sách như quy định đối với vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn có học sinh đạt giải trong các kỳ thi cấp huyện trở lên.

– Giáo viên, giảng viên là tác giả chính bài báo đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành trong nước hoặc quốc tế.

– Công chức, viên chức và người lao động tham gia soạn thảo đề án, dự án, quy chế của đơn vị đã được ban hành theo quyết định phân công của người có thẩm quyền;

  1. b) Tỷ lệ “Chiến sĩ thi đua cơ sở” không quá 15 % số cá nhân đạt danh hiệu “Lao động tiên tiến” của đơn vị, trong đó bảo đảm không quá 1/3 là cán bộ quản lý, nếu có số dư thì được làm tròn lên.

Thứ tư, đối với danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cấp Bộ” được quy định tại Điều 11, Thông tư số 35/2015/TT-BGDĐT:

  1. a) Được xét tặng cho cá nhân đạt các tiêu chuẩn quy định tại Điều 14, Nghị định số 42/2010/NĐ-CP.
  2. b) Một số thành tích được tính là sáng kiến áp dụng khi xét, công nhận danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp tỉnh, Bộ:

– Tham gia soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành theo quyết định phân công của người có thẩm quyền.

– Giáo viên, giảng viên trực tiếp giảng dạy, bồi dưỡng được 01 học sinh, sinh viên đạt một trong các giải nhất, nhì, ba hoặc Huy chương Vàng, Bạc, Đồng trong các kỳ thi quốc gia, quốc tế.

– Tham gia biên soạn chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông đã được nghiệm thu.

– Giáo viên, giảng viên đạt giải nhất, nhì, ba trong các hội thi do cấp tỉnh, Bộ tổ chức.

Thứ năm, đối với việc xét tặng Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp giáo dục” thực hiện theo quy định tại Quyết định số 26/2005/QĐ-BGD&ĐT ngày 29/8/2005; Quyết định số 27/2005/QĐ-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 29/8/2005 và các quy định tại Điều 27, Thông tư số 35/2015/TT-BGDĐT:

– Cá nhân có thời gian công tác trong ngành Giáo dục đủ 25 năm trở lên đối với nam và đủ 20 năm trở lên đối với nữ, hoàn thành nhiệm vụ được giao.

– Cá nhân đang công tác tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, các huyện nghèo được áp dụng hưởng chính sách như quy định đối với vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn được xét tặng sớm hơn thời gian quy định tại Khoản 1 của Điều 27, Thông tư số 35/2015/TT-BGDĐT là 05 năm.

– Cá nhân có đủ điều kiện quy định tại Khoản 1, Khoản 2 của Điều 27, Thông tư số 35/2015/TT-BGDĐT nhưng bị kỷ luật từ hình thức khiển trách đến dưới hình thức kỷ luật buộc thôi việc chỉ được xét tặng Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp giáo dục” tính từ thời điểm xóa kỷ luật. Thời gian thi hành kỷ luật không được tính để xét tặng Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp giáo dục”.

Thông tư hướng dẫn công tác thi đua, khen thưởng có hiệu lực thi hành từ ngày 16/2/2016.

(Xuân Nam)